Thành viên trực tuyến

2 khách và 0 thành viên

Dự báo thời tiết

Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi

HÔM NAY LÀ

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Ngô Bảo Côi)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Re_cay_hanhcay_rau_cai.jpg IPHONE.jpg 10635704_836243679741917_997840036827670928_n.jpg 10407489_836242573075361_4462409742065482853_n.jpg 10347616_836199493079669_8510346790924057502_n.jpg Hoi_nghi_2.jpg Photo0066.jpg Photo0077.jpg Photo0042.jpg Loan_dem_giang_sinh_2012.swf Trang11311.jpg T32.png Trong_chieng.jpg Xeng.jpg MOV01402.flv IMG_03571.jpg DSC_00961.jpg DSC_0096.jpg Album_khai_giang_moi.swf

    Sắp xếp dữ liệu

    Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang web chúng tôi xây dựng như thế này có được không?
    Đẹp
    Bình thường
    Đơn điệu
    Ý kiến khác

    Ngày hôm nay

    Đi dọc Việt Nam

    ĐỒNG HỒ

    Chào mừng quý vị đến với Website của Trường Tiểu học Đồng Nguyên 2.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Bí quyết - Thủ thuật tin học >

    KHẮC PHỤC SỰ CỐ MÁY TÍNH

     

    Chỉnh sửa registry cho Windows XP (I)

    Trước khi thực hiện việc chỉnh sửa Registry, cần phải lưu ‎ý một điều, việc chỉnh sửa Registry là một việc không hề đơn giản. Chỉ cần chỉnh sai một giá trị thì có thể làm ảnh hưởng đến cả hệ thống. Do đó trước khi thực hiện việc chỉnh sửa Registry, bạn phải sao lưu lại toàn bộ các Registry sẵn có bằng cách click Start, chọn Run và gõ Regedit vào hộp thoại. Tiếp theo tại cửa sổ Registry Editor, bạn chon File -> Export và xuất ra một file dạng .reg, file này chứa các giá trị ban đầu, có thể dùng để khôi phục giá trị của Registry trong trường hợp registry bị lỗi. 

    I. Tăng tốc độ máy tính bằng cách tăng DiskCache.Disk Cache là nơi lưu trữ dữ liệu ẩn của bộ nhớ, mà những dữ liệu được lưu trữ trong này có thể nhanh chóng truy cập đến. Để tăng tốc độ máy tính, bạn có thể tăng dung lượng lưu trữ của Cache để có thể nhanh chóng sử dụng. Cách tiến hành như sau.

     1. Đầu tiên hãy xem thử bộ nhớ của máy bạn là bao nhiêu bằng cách click chuột phải vào biểu tượng My Computer chọn Properties. Tại đây bạn có thể xem bộ nhớ RAM của máy bạn là bao nhiêu (ví dụ 512 MB of RAM)  

    2. Sau khi đã xác định dung lượng của bộ nhớ, bạn nhấn Start, chọn Run và gõ Regedit vào hộp thoại. Tiếp theo, bạn tìm đến khóa HKEY_LOCAL_MACHINE/SYSTEM / CurrentControlSet / Control / SessionManager / Memory / Management / IoPageLockLimit

    3. Click đôi vào key IoPageLockLimit và điều giá trị thích hợp vào với giá trị tương ứng với bộ nhớ RAM, cụ thể như sau :

    - 64 MB RAM : 1000

    - 128 MB RAM : 4000

    - 256 MB RAM : 10000

    - Từ 512 MB RAM trở lên : 40000

    4. Cuối cùng khởi động lại máy để thiết lập có tác dụng.

    Lưu ‎ý: Trước khi sử lại giá trị tương ứng với bộ nhớ RAM, bạn phải ghi lại giá trị ban đầu của key IoPageLockLimit. Sau khi thay đổi và khởi động lại máy, nếu máy tính của bạn hoạt động không bình thường, bạn thực hiện lại các bước như trên và điền lại giá trị ban đầu.

    II. Hiển thị trạng thái lỗi của kết nối mạng

    Thủ thuật sau đây cho phép bạn hiển thị trạng thái lỗi của kết nối LAN và WAN. Những thông tin thu được này có thể sẽ có giá trị trong việc dự đoán các lỗi có thể xảy ra cho kết nối trên hệ thống.

     1. Đầu tiên, bạn click Start, chọn Run và điền Regedit vào hộp thoại.

    2. Trong cửa sổ Regedit mở ra, bạn tìm khóa : HKEY_LOCAL_MACHINE / SYSTEM / CurrentControlSet / Control / Network / Connections / StatMon

     3. Tại khung bên phải, click chuột phải, chọn New -> DWORD Value để tạo một key mới có tên là ShowLanErrors, hoặc trong trường hợp key này đã tồn tại thì bạn điều chỉnh lại giá trị của key này từ 0 (default) thành 1 (enble error count)

    Cuối cùng khởi động lại máy để thiết lập có tác dụng.

    III. Sắp xếp Menu và Favourites theo thứ tự từ A-Z

    Thông thường các chương trình có trong Menu hoặc lưu trong danh sách Favourites được sắp xếp lộn xộn không theo một thứ tự nhất định. Tuy nhiên để tiện cho việc tra cứu cũng như sử dụng dễ dàng, bạn có thể sắp xếp chúng theo thứ tự từ A-Z của tên gọi bằng cách sau. 

    1. Đầu tiên click Start, chọn Run và điền Regedit vào hộp thoại.

    2. Tìm đến khóa : HKEY_CURRENT_USER / Software / Microsoft / Windows / CurrentVersion / Policies / Explorer 

    3. Để sắp xếp danh sách của Favourites, bạn xóa key Favourites ở trong bảng bên trái. Để sắp xếp danh sách của Start Menu, bạn xóa key Start Menu2 ở bảng bên trái.

    4. Cuối cùng khởi động lại máy và bạn sẽ thấy 2 danh sách này đã được sắp xếp theo một trật tự alphabet.

    IV. Tắt hộp thoại “Balloon Tips”

    Ballon Tips là một dạng hộp thoại thông báo khi mà hệ thống có một thay đổi nào đó. Tuy nhiên đôi khi những sự thông báo này sẽ gây những phiền hà không mong muốn. Bạn có thể tắt chức năng thông báo này để không xuất hiện những hộp thoại như vậy nữa.  

    1. Đầu tiên click Start, chọn Run và gõ Regedit vào hộp thoại.

    2. Tìm đến khóa : HKEY_CURRENT_USER\Software / Microsoft / Windows / Current
    Version / Explorer / Advanced
     

    3. Tiếp theo, tìm đến key EnableBalloonTips ở bảng bên phải, hoặc click chuột phải và chọn New DWORD Value để tạo 1 key mới có tên như trên. Thiết lập gái trị cho key này là 0. Ngược lại, nếu muốn xuất hiện trở lại những thông báo thì thiết lập là 1. 

    4. Cuối cùng khởi động lại máy tính để những thiết lập có tác dụng.

    (Còn tiếp)

    Chỉnh sửa registry cho Windows XP (II)


    >> 

    1. Thay đổi vị trí của các thư mục quan trọng: Thông thường, những thư mục đặc biệt trên máy tính của bạn, như My Documents, My Picture… thường mặc định nằm trên ổ đĩa hệ thống. Điều này sẽ vô cùng bất tiện nếu như đến một lúc nào đó, bạn không thể khởi động máy tính của mình và buộc phải format lại ổ đĩa hệ thống và cài lại Windows.

    Để an toàn hơn, bạn có thể di chuyển những thư mục đặc biệt này sang một phân vùng ổ cứng khác. Bạn có thể thay đổi vị trí mặc định của các thư mục đặc biệt như: My Documents, Favourites, Desktop, My Pictures, My Music… bằng cách can thiệp vào Registry. Điều này sẽ giúp bạn dễ dàng quản l‎ý và lưu trữ dữ liệu trên thư mục đặc biệt này. 

    Để thực hiện điều này, bạn làm theo các bước sau:

    - Đầu tiên, click Start, chọn run và điền regedit vào hộp thoại.

    - Tại cửa sổ Registry Editor, bạn tìm đến theo đường dẫn :HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Explorer\User Shell Folders 

    - Tại đây, ở cửa sổ bên phải, bạn sẽ thấy tên các thư mục đặc biệ và vị trí của nó trên đĩa cứng. Nếu bạn muốn thay đổi vị trí của một thư mục nào, click đôi vào thư mục đó và đánh lại đường dẫn cho nó.(Ví dụ: D:\My Documents)

    - Cuối cùng, chỉ cần đóng cửa sổ Registry Editor và khởi động lại máy để thiết lập có tác dụng.

    Bây giờ, những thư mục quan trọng của bạn đã được an toàn cho dù bạn có phải format phân vùng hệ thống để cài lại Windows đi chăng nữa.

    2. Cách ly phân vùng hệ thống: Máy tính của bạn có nhiều người sử dụng, và bạn lo sợ rằng một người trong số đó sẽ vô tình xóa đi 1 file hệ thống làm ảnh hưởng đến cả hệ thống của máy tính ? Các bảo vệ tốt nhất đó là … dấu đi cả phân vùng hệ thống.

    Thông thường, khi cài đặt, Windows sẽ được cài đặt trên 1 phân vùng ổ cứng, gọi là phân vùng hệ thống. Cũng như khi bạn muốn bảo vệ dữ liệu quan trọng của mình, bạn có thể sử dụng chức năng ẩn (hidden) trong windows để dấu chúng đi. Tuy nhiên, nếu trường hợp là cả một phân vùng trên ổ cứng thì chức năng này lại không có tác dụng. Vậy thì chỉ cần một thủ thuật nhỏ can thiệp vào Registry của hệ thống, bạn đã có thể dấu đi cả một phần vùng ổ cứng.

    Để dấu đi phân vùng chứa hệ thống, bạn thực hiện theo các bước sau:

    - Đầu tiên, click Start, chọn run và điền Regedit vào hộp thoại.

    - Tại cửa sổ Registry Editor, bạn tìm đến khóa sau : HKey_Current_User \ Software \ Microsoft \ Windows \ Current Version \ Policies \ Explorer

    - Tại đây, ở cửa sổ bên phải, bạn click chuột phải vào một vùng trống và chọn New -> DWORD và đặt giá trị cho nó là 3FFFFFF 

    - Cuối cùng, bạn đóng cửa sổ Registry Editor và khởi động lại máy để thiết lập có tác dụng.

    Bây giờ, dữ liệu trên phân vùng hệ thống của bạn sẽ được an tòan khi mà đã hoàn toàn biến mất. Để truy cập vào phân vùng này, bạn vào My Computer và điền tên của phân vùng ổ cứng trên khung đường dẫn. 

    3. Tự động đóng các chương trình bị treo: Thông thường, để đóng một chương trình bị treo trong quá trình hoạt động (trạng thái Not Responding) bạn phải vào Task Manager (bằng cách bấm tổ hợp phím Ctrl + Alt + Delete) và tìm đến chương trình đó trong số các chương trình đang hoạt động để kết thúc quá trình hoạt động của nó (End Processing). Đôi khi những chương trình bị treo này có thể gây ra một số vấn đề khi sử dụng Windows hoặc các chương trình khác. Tuy nhiên, bạn có thể thiết lập để máy tính tự động kết thức những chương trình bị treo đó một cách tự động.

    Windows có một tính năng để đóng các chương trình bị treo một cách tự động. Bạn có thể kích hoạt tính năng này bằng cách can thiệp vào Registry của hệ thống. Sau đây là các bước thực hiện:

    - Đầu tiên, click vào Start, chọn Run và điền Regedit vào hộp thoại.

    - Tại cửa sổ Registry Editor, bạn tìm đến : Hkey_Current_User \ Control Panel \ Desktop

    - Tại đây, ở  cửa sổ bên phải, click đôi vào khóa AutoEndTasks. Giá trị mặc định của khóa này là 0, bây giờ bạn thay đổi lại giá trị này thành 1.

    - Cuối cùng, đóng cửa sổ Registry Editor và khởi động lại máy để thiết lập có tác dụng. 

    Bây giờ, Windows sẽ tự động đóng toàn bộ những chương trình bị treo trên hệ thống của bạn mà không cần bạn phải sử dụng chức năng End Task của Task Manager.

    4. Gỡ bỏ hoặc kích hoạt chức năng AutoRun của CDROM: Thông thường, khi bạn bỏ một đĩa CD vào CDROM và đóng khay đĩa lại, chức năng Auto Run của hệ thống sẽ được kích hoạt và hỏi bạn sẽ làm gì với chiếc CD đó, hoặc nếu đó là chiếc CD chứa nội dung phim hoặc nhạc thì các chương trình chơi nhạc và phim sẽ tự động kích hoat… Đôi khi điều này thật là bất tiện nếu như bạn chỉ muốn bỏ chiếc đĩa vào để làm việc khác chứ không phải để coi phim và nghe nhạc.

    Nếu như bạn không muốn hệ thống thông báo với mình điều đó nữa mà sẽ tự mình quyết định sẽ nên làm gì thì bạn có thể chỉnh lại tính năng Auto Run của CD ROM.

    Thực hiện theo các bước sau:

    - Đầu tiên, click Start, chọn Run và điền Regedit vào hộp thoại.

    - Tiếp theo, tìm đến theo khóa :HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Services\CDRom

    - Tại đây, ở cửa sổ bên phải, bạn sẽ thấy khóa Autorun, hoặc nếu không thấy, bạn có thể click chuột phải lên một vùng trống ở cửa sổ bên phải và chọn New -> DWORD và đặt tên khóa mới là Autorun.

    - Click đôi vào khóa Autorun và thiết lập lại giá trị của nó : giá trị 0 nghĩa là gỡ bỏ chức năng Autorun của CDROM và 1 nghĩa là sẽ kích hoạt chức năng này.

     

    - Cuối cùng, đóng cửa sổ Registry Editor và khởi động laị máy tính.

     Bây giờ, mỗi khi bỏ đĩa vào khay đĩa, mọi quyền quyết định sẽ do bạn lựa chọn, không phải do hệ thống quyết định giúp bạn nữa.

    Quay phim màn hình với CamStudio 2.0

    CamStudio là chương trình miễn phí cho phép bạn ghi lại toàn bộ hoạt động đang diễn ra trên màn hình của mình và xuất ra thành một đoạn phim. Với nó, bạn có thể ghi lại toàn bộ hoạt động trên toàn màn hình, hay trong từng khu vực mà bạn lựa chọn với những kích cỡ khác nhau. Với CamStudio, bạn vừa có thể ghi lại toàn bộ màn hình, lại vừa có thể ghi âm chèn vào đoạn phim được ghi. Bài viết sau đây sẽ hướng dẫn bạn cách thức thao tác với CamStudio.

    Đầu tiên bạn download chương trình tại đây.

    Sau khi cài đặt chương trình thành công, bạn kích hoạt chương trình. Giao diện chính của chương trình sẽ được mở ra, trông khá giống với các chương trình Media Player.

    (Pic 1)

     Giao diện chính của chương trình bao gồm một hàng các nút.

    Record : là nút tròn đỏ nằm đầu tiên trong hàng. Chương trình sẽ bắt đầu quay màn hình khi bạn nhấn vào nút này.

    Pause : là nút kết tiếp trong dãy nút. Trong quá trình quay phim màn hình, nếu bạn muốn tạm ngừng do có những ly’ do khác nhau, bạn có thể nhấn nút này để tạm ngừng ghi hình.

    Stop : Khi nào bạn kết thúc quá trình ghi hình, bạn có thể nhấn nút này để bắt đầu lưu lại đoạn phim.

    Toggle view : Dùng để điều chỉnh giao diện chính của chương trình. Click vào đây sẽ giúp thu nhỏ các khay của chương trình.

    - Screen Annotations : Click vào đây, bạn sẽ được đưa ra một danh sách các bong bóng hộp thoại (thường thấy trong truyện tranh), bạn có thể chọn một bong bóng hộp thoại và điền vào những nội dung tương thích dùng để chú thích trong đoạn phim (nếu muốn).

    - Record to Flash/AVI : Mặc định, sau khi ghi hình và lưu lại đoạn phim, chương trình sẽ lưu đoạn phim dưới định dạng AVI. Tuy nhiên, nếu muốn, bạn có thể lưu đoạn phim dưới định dạng Flash (swf), điều này sẽ giúp cho dung lượng của đoạn phim bé hơn, đồng thời dễ dàng chia sẽ nội dung của đoạn phim thông qua Internet.

    Điều tiếp theo bạn cần quan tâm là thiết lập 1 số tùy chọn cho chương trình. Tùy theo mục đích mà bạn có thể thiết lập các tùy chọn khác nhau. Bài viết sau đây xin hướng dẫn sơ qua những thiết lập quan trọng cần thiết cho bạn trong quá trình sử dụng.
    Kích cỡ khung hình của đoạn phim:

    Bạn có thể thiết lập kích cỡ của khung hình trong lúc quay lại màn hình bằng cách click vào tùy Region ở giao diện của chương trình. Tại đây có 3 tùy chọn khác nhau cho bạn lựa chọn

    Region : Tùy chọn này sẽ cho phép bạn tự thiết lập kích thước của khung hình. Chẳng hạn, bạn quay lại một đoạn phim để hướng dẫn các thao tác trên 1 phần mềm nào đó, thì bạn thiết lập khung hình sao cho khớp với cửa sổ của phần mềm đó mà không cần phải quay hết của màn hình. Điều này sẽ giúp cho file video mà bạn xuất ra không nặng hơn mức cần thiết (bởi vì khung hình càng lớn thì dung lượng file sẽ càng nặng)

    Sau khi thiết lập tùy chọn này, khi nhấn nút Record để bắt đầu quay màn hình. Biểu tượng một cây viết sẽ hiển thị, cho phép bạn kéo chuột để khoanh vùng khu vực mà bạn muốn ghi hình. Sau khi kéo chuột để khoanh vùng khu vực, chương trình sẽ bắt đầu ghi lại toàn bộ hoạt động trong khu vực mà bạn đã khoanh lại. Sau khi đã hoàn thành quá trình ghi hình, bạn nhấn nút Stop để lưu lại đoạn phim vừa quay được.

    - Fixed Region : Với tùy chọn này, bạn sẽ được phép thiết lập một khung hình với diện tích cố định. Tùy theo mục đích mà bạn có thể thiết lập độ rộng khung hình. Tương tự như tùy chọn Region ở trên, bạn cũng có thể kéo chuột để khoanh vùng khu vực ghi hình bằng cách click vào nút Select ở cửa sổ Fixed Region. Sau khi đã khoanh được khu vực cần ghi hình, bạn click Ok để đóng cửa sổ Fixed Region và bấm nút Record để bắt đầu quay.

    - Full Screen : Với tùy chọn này, chương trình sẽ tự động quay laị toàn bộ những hoạt động trên màn hình của bạn mà không cần phải khoanh vùng hay lựa chọn bất kỳ một khu vực nào. Công việc của bạn chỉ là nhấn nút Record để chương trình bắt đầu ghi hình.

    Những tùy chọn chính của chương trình

    Sau khi đã thiết lập kích thước cần thiết để ghi hình, bạn cần chú y’ thêm một số điều để chất lượng của hình ảnh trong file video được tốt. Tại giao diện chính của chương trình, bạn click nút Options để hiển thị ra danh sách các tùy chọn.

    Sau đây là một số tùy chọn cần quan tâm:

    - Video Options : Tùy chọn này sẽ giúp bạn thiết lập những thông tin liên quan đến chất lượng của hình ảnh. Sau khi click vào tùy chọn này, cửa sổ Video Options sẽ được hiển thị. Tại đây bạn chỉ cần lưu tâm đến 2 vấn đề :

    Quality : Chất lượng của hình ảnh lúc quay. Nếu bạn chỉnh quality càng cao đồng nghĩa với chất lượng hình ảnh càng đẹp, tuy nhiên điều này cũng sẽ khiến cho dung lượng của file video lúc xuất ra cũng sẽ rất lớn. Do đó bạn chỉ nên chọn quality chừng 70 – 75.

    + Framerate : Đây chính là tốc độ quay của chương trình. Tại đây có tùy chọn Auto Ajust, bạn nên để yên tùy chọn này và kéo thanh trượt về mức Max Framerate sẽ giúp cho hình ảnh quay được trông mượt hơn.

    - Cursor Options : Trong quá trình quay, nếu bạn muốn hiển thị hay dấu đi con trỏ chuột thì có thể thiết lập ở tùy chọn này. Sau khi chọn tùy chọn này, cửa sổ Cursor Options sẽ được hiển thị.

    + Nếu bạn muốn dấu con trỏ chuột trong quá trình ghi hình, bạn đánh dấu vào tùy chọnHide Cusor. Ngược lại, ở tùy chọn Show Cursor có 3 tùy chọn khác nhau. Nếu bạn muốn hiển thị con trỏ chuột hiện thời trong quá trình ghi hình, bạn đánh dấu vào tùy chọn Use Actual Cusor. Nếu bạn muốn sử dụng 1 con trỏ khác do chương trình cung cấp thì đánh dấu vào tùy chọn Use Custom Cursor và chọn 1 biểu tượng con trỏ trong danh sách các con trỏ chuột của chương trình. Ngựoc lại, nếu bạn muốn sử dụng 1 biểu tượng con trỏ khác trong số các con trỏ mà bạn chứa trong máy tính của mình, thì bạn chọn Use Cursor from file và click vào Browse để chọn đến biểu tượng con trỏ muốn sử dụng. 

    - Trong trường hợp bạn muốn ghi lại âm thanh trong quá trình ghi hình thì máy tính của bạn phải trang bị micro phone. Những điều này bạn có thể dễ dàng nghiên cứu thêm trong quá trình sử dụng.

    Ngoài tính năng quay lại hoạt động trên màn hình, CamStudio còn có một tính năng đó là chuyển đổi định dạng file từ AVI sang SWF, đồng thời sẽ tạo ra 1 file HTML chứa đoạn Flash đó, sau khi chuỷển đổi định dạng, bạn có thể up file HTML đó lên một host để chia sẽ đoạn phim đó với bạn bè của mình thông qua Internet. Để sử dụng tính năng này, tại giao diện chính của chương trình, bạn click vào Tools -> SWF Producers (Convert AVI to Flash).

    Sau khi click vào đó, cửa sổ SWF Producers sẽ được hiện ra. Tại đây, bạn click vào biểu tượng chữ C màu xanh để chọn đến file AVI cần đổi định dạng. 

    Sau khi chọn được file cần đổi định dang, cửa sổ Conversion to Flash sẽ được hiển thị để bạn thiết lập các thông tin tùy chọn cho file Flash sẽ được tạo ra. Tại đây, bạn có thể chọn đường dẫn để lưu lại file Flash (file swf) và file HTML. Tại mục Video Properties, bạn có thể chọn 16 bits hoặc 32 bits cho màu sắc của file Flash sẽ được tạo ra.

    Sau khi đã thiết lập những tùy chọn cần thiết, bạn nhấn OK để bắt đầu quá trình chuyển đổi. Bây giờ, kết quả thu được sẽ là 1 file Flash cùng 1 file HTML. Bạn chỉ cần up 2 file này lên 1 server nào đó là có thể chia sẽ đoạn phim của mình với bạn bè thông qua Internet.

    Tóm lai, CamStudio là một chương trình với các tính năng mạnh mẽ để ghi hình lại những hoạt động trên màn hình của mình. Chưa hết, nếu bạn là một lập trình viên, hoặc một người đam mê tìm toàn khám phá thì bạn có thể download mã nguồn của chương trình tại http://camstudio.org/dev/ để có thể khám phá và biết đâu có thể sửa cho chương trình trở nên thân thiện và có thêm những tính năng mạnh mẽ hơn.

    Trên đây là những thông tin cần thiết và cơ bản để bạn có thể quay lại toàn bộ những hoạt động trên màn hình của mình giống như sử dụng 1 máy quay chuyên nghiệp. Bây giờ, với CamStudio, có lẽ những điều bạn cần diễn đàn trên máy tính sẽ trở nên nhanh chóng, đơn giản và dễ hiểu hơn rất nhiều.

    Biến USB thành bộ nhớ RAM với eBoostr 1.1

    Ngày nay, các phần mềm càng lúc càng có những yêu cầu cao về cấu hình của máy tính. Do đó, để tốc độ của máy tính không bị ảnh hưởng khi sử dụng các phần mềm đó, thì bắt buộc hệ thống của bạn phải có một dung lượng RAM kha khá.  

    Bạn đã từng biết đến tính năng ReadyBoost trên Windos Vista. Theo đó, Windows Vistacó thể sử dụng dung lượng trống trên Flash USB để sử dụng như một bộ nhớ RAM, giúp tăng thêm tốc độ của hệ thống. Bạn có thể xem thêm về tính năng này của Windows Vista tại http://www1.dantri.com.vn/cong-nghe/2007/12/209090.vip">đây.

    Tuy nhiên, trong trường hợp máy tính của bạn không sử dụng Windows Vista mà đang sử dụng Windows XP hoặc các phiên bản khác trước đó, thì tính năng này lại chưa được xuất hiện. Đó là quả thực là một điều đáng tiếc.

    Trong quá trình hoạt động, hệ thống và các chương trình sẽ lưu những dữ liệu liên quan (các cache file) lên bộ nhớ RAM, để từ đó truy xuất vào các file này để sử dụng. Do đó, dung lượng bộ nhớ RAM càng lớn đồng nghĩa với việc bạn có thể sử dụng cùng lúc nhiều chương trình hơn và tốc độ của hệ thống sẽ nhanh hơn.

    Ngày nay, khi mà dung lượng của các thiết bị lưu trữ dữ liệu như thẻ nhớ và Flash USB ngày càng tăng và giá thành ngày càng giảm, thì việc sở hữu một chiếc USB có dung lượng lớn là một việc đơn giản, việc này đơn giản hơn là bạn phải sắm cho mình những thanh RAM mới. Vậy nếu như bạn có 1 Flash USB với dung lượng lớn, nhưng máy tính lại không sử dụng Windows Vista thì cũng không thể nào khai thác chiếc USB đó vào vai trò một bộ nhớ ảo thông qua tính năng ReadyBoost. Vậy thì hãy thử sử dụng eBoostr 1.1

    eBoost là một chương trình khá nhỏ gọn, sẽ sử dụng dung lượng trống trên chiếc USB của bạn và biến nó thành một bộ nhớ đệm để lưu trữ các cache file của chương trình và hệ thống. Do đó, USB lúc này sẽ có vai trò tương tự như một bộ nhớ RAM, giúp cho hệ thống được cải thiện tốc độ một cách đáng kể. Về cơ bản, thì eBoost hoạt động tương tự như tính năng ReadyBoost trên Windows Vista.

    Đầu tiên, bạn download bản dùng thử của chương trình tại đây.

    Sau khi download và cài đặt chương trình thành công, bạn cần phải khởi động lại hệ thống để có thể sử dụng chương trình.

    Nếu đây là lần đầu tiên sử dụng chương trình thì sau khi hệ thống hoàn thành quá trình khởi động, bạn sẽ nhận được 1 thông báo yêu cầu cắm USB vào máy tính. Sau khi cắm USB vào máy tính, bạn nhấn nút Yes trên hộp thoại để chương trình bắt đầu sử dụng USB làm bộ nhớ đệm, lưu trữ các cache file.

    Sau khi bạn nhấn Yes ở hộp thoại đầu tiên, cửa sổ Add cache Device sẽ được hiện ra để bạn chọn thiết bị USB và dung lượng trống trên USB đó để sử dụng làm bộ nhớ đệm. Bạn có thể sử dụng hết toàn bộ dung lượng trống trên USB, hoặc tự thiết lập dung lượng dùng để sử dụng. Tốt nhất bạn nên sử dụng toàn bộ dung lượng trống của USB để sử dụng, điều này sẽ giúp cho hệ thống được cải thiện tốc độ nhiều hơn. (Dung lượng trống tối thiểu trên USB của bạn phải là 64MB)

    Sau khi đã chọn thiết bị và dung lượng trống cần thiết để sử dụng trong việc lưu các cache file, bạn nhấn OK để chương trình bắt đầu kiểm tra dung lượng trống trên USB và phân phối các cache file của các chương trình hiện hành vào USB. Quá trình kiểm tra sẽ mất chừng vài giây đến một phút, tùy vào dung lượng trống bạn muốn chương trình sử dụng.

    Sau khi quá trình kiểm tra kết thúc, chương trình sẽ yêu cầu bạn xác nhận lại 1 lần rằng có muốn sử dụng thiết bị của mình làm bộ nhớ đệm hay không. Bạn nhấn Yes để xác nhận với chương trình.

    Bây giờ, bạn sẽ mất thêm một khoản thời gian nữa để eBoostr bắt đầu phân phối các cache file hiện hành đang chạy trên RAM ra USB của bạn, giúp giảm tải công việc cho RAM. Tại giao diện chính của chương trình, ở mục System Status sẽ hiển thị số % mà quá trình phân phối các tiến trình đã hoàn thành. Đến khi Syste Status chuyển thành Active, lúc đó USB của bạn đã hoàn toàn trở thành một bộ nhớ đệm và bộ nhớ RAM trên hệ thống đã được giảm tải dung lượng để chứa các cache file và có thể sử dụng để chứa các cache file của các chương trình mới. Điều này sẽ giúp  tăng tốc độ của hệ thống một cách đáng kể và có thể kích hoạt được thêm nhiều chương trình hơn.

    Trên đây là cách thức để bạn sử dụng chương trình trong lần đầu tiên sau khi cài đặt. Đối với những lần sử dụng sau, bạn chỉ cần cắm USB vào máy tính, kích hoạt tiện ích chương trình eBoost Control Panel của chương trình, sau đó tiến hành các bước như trên, để thiết lập thiết bị và dung lượng trống mà chương trình có thể sử dụng.

    Trong trường hợp bạn không muốn sử dụng thiết bị của mình, hoặc muốn rút USB ra khỏi máy tính thì trước tiên bạn phải thoát khỏi chương trình này. Nếu không, bạn có thể bị mất dữ liệu hoặc 1 số chương trình sẽ bị ảnh hưởng. Để làm được điều này, tại giao diện chính của chương trình, trong danh sách các thiết bị, bạn click vào thiết bị muốn ngưng sử dụng và click vào nút Remove. Chương trình sẽ bắt đầu lại quá trình thu hồi lại các cache file của các tiến trình và đưa lại vào RAM hoặc đưa sang các thiết bị khác. Sau đó bạn có thể rút USB ra một cách an toàn theo cách thông thường.

    Về cơ bản thì eBoostr hoạt động tương tự như tính năng ReadyBoost của Windows Vista, do đó chương trình chỉ tưong thích với các hệ điều hành từ Windows XP trở về sau, khi mà các hệ điều hành này chưa có tính năng ReadyBoost. Ngòai ra, chương trình chỉ hỗ trợ USB 2.0, do đó ngoài Flash USB, bạn có thể sử dụng các đầu đọc thẻ nhớ có hoặc các thiết bị lưu trữ nào có cổng giao tiếp USB 2.0 để sử dụng trong chương trình. Chương trình hỗ trợ bạn nối tối đa 4 thiết bị khác nhau, do đó bạn có thể thỏa sức tăng thêm bộ nhớ trên hệ thống của mình.

    Tuy nhiên, bản dùng thử của chương trình lại giới hạn bạn được phép sử dụng mỗi lần trong 4 tiếng, sau 4 tiếng, bạn phải khởi động lại hệ thống thì mới được phép sử dụng. Để thu nhỏ chương trình xuống khay hệ thống, tại cửa sổ của giao diện chính, bạn phải click vào File và chọn Minimize to Tray. Điều này xem chừng là khá bất tiện và mất thời gian thay vì thiết kế một nút bấm để thu nhỏ chương trình. 

    Tóm lại, eBoostr là giải pháp khá thích hợp dành cho những máy tính có cấu hình yếu nhưng chủ nhân lại chưa đủ điều kiện để nâng cấp thiết bị cho nó. Hy vọng với eBoost, các bạn sẽ cải thiện được tốc độ trên máy tính của mình mà không cần phải tốn tiền sắm thêm những thanh RAM mới.

    Các cách đơn giản để phòng tránh virus lây qua USB

    1. Cho hiển thị file ẩn và đuôi file 

    Trước khi cắm ổ USB bất kỳ vào máy, bạn hãy mở Windows Explorer. Ở menu Tools > tìm dòng Folder Options. Nếu không có mục này thì nghĩa là máy của bạn đang hoặc từng bị virus và bạn cần dùng những chương trình diệt virus mới nhất để diệt cho sạch sẽ, và áp dụng các giải pháp khắc phục tác hại của virus lây qua USB.

    Trong hộp thoại Folder Options vừa mở ra, bạn nhấn vào tab View, tìm các dòng sau và bấm/ huỷ bấm dấu kiểm của những dòng tương ứng: 

    Show hidden files and folders (bấm chọn nút radio)

    Bỏ dấu kiểm Hide extensions for know file types

    Bỏ dấu kiểm Hide protected operating system files (Recommended)

    Mục đích của thao tác này là để hiển thị virus cố tình giấu mặt trong ổ USB bằng cách tự đặt cho nó thuộc tính "ẩn" (Hidden và System), và hiển thị những virus giả danh (có biểu tượng giống file word hay giống biểu tượng folder, nhưng thực ra nó là file thực thi *.EXE) để khỏi vô tình bấm nhầm khiến nó hoạt động.

    Nếu bạn không cho hiển thị đuôi file thì bạn sẽ không thể phân biệt được đâu là tài liệu thật, đâu là virus vì chúng đều có tên giống nhau, biểu tượng (icon) giống nhau, và chỉ khác nhau duy nhất phần đuôi (mở rộng) file (*.EXE và *.DOC chẳng hạn). Trong khi đó, để "tiện dụng" theo mặc định của Microsoft, phần đuôi file này không được hiển thị nên người dùng rất dễ nhầm lẫn.

    Khi thấy file EXE có biểu tượng giống Word, giống Folder và có tên file giống tài liệu của bạn thì hãy xoá thẳng tay và không được bấm đúp vào đó để xem.

    2. Bỏ thói quen bấm đúp chuột trái và bấm chuột phải

    Đa số người dùng đều có thói quen cắm ổ USB vào máy, mở Explorer nhấn đúp chuột trái vào biểu tượng ổ USB trong My Computer để mở.

    Nhưng rất nhiều virus có đặc tính tạo ra một file "Autorun.inf" ở ngay bên ngoài ổ USB, có thể ẩn hoặc không. File này về bản chất không xấu, nó được Windows cho tự động chạy một phần mềm quy định trong nội dung của file "Autorun" để tạo ra sự thuận tiện cho người dùng. Virus lại lợi dụng file đó để tự động kích hoạt nên nếu thấy sự xuất hiện của file đó trên ổ USB hoặc bên ngoài cùng ổ cứng (C:\; D:\; E:\) nghĩa là ổ USB hoặc máy tính của bạn đã có virus.

    Kể cả bạn đã thận trọng bấm chuột phải vào biểu tượng ổ USB và chọn Explorer hoặc bất kỳ một mục gì khác để mở ổ USB từ menu bật ra, bạn vẫn bị virus. Bởi virus đã chỉnh sửa file Autorun.inf, và thông qua đó đã chỉnh sửa luôn cả menu bật ra khi bạn bấm chuột phải để khi người dùng chọn Explorer, virus vẫn được kích hoạt.

    Do đó, hãy mở cửa sổ My computer bằng cách bấm nút Windows-E, và bấm đơn (một lần trên chuột trái) vào hình ổ USB ở bên trái trong cây thư mục (Folder tree). Hoặc bấm vào nút sổ xuống (drop-down) của Address bar, và chọn ổ USB trong danh sách ổ đĩa xổ xuống đó. Bạn vẫn mở được ổ USB ngay cả khi USB có virus, còn virus thì không thể vào được máy nếu bạn thận trọng làm như vậy.

    3. Vô hiệu hoá tính năng Autorun

    Mặc dù đã "cảnh giác" để mở USB như mục 2, nhưng đôi khi người dùng vẫn cứ nhầm lẫn. Vì vậy, tốt hơn hết là vô hiệu hóa Autorun bằng cách sau:

    Tạo một giá trị DWORD với tên “NoDriveTypeAutorun” tại khóa HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows\

    CurrentVersion\policies\Explorer của registry rồi đặt giá trị theo bảng dưới đây.

    Hệ 16

    Hệ 10

    Ý nghĩa

    0 x 1

    1

    Vô hiệu hóa Autorun của các ổ đĩa chưa biết kiểu

    0 x 4

    4

    Vô hiệu hóa Autorun của các ổ đĩa tháo lắp được

    0 x 8

    8

    Vô hiệu hóa Autorun của các ổ đĩa cố định

    0 x 10

    16

    Vô hiệu hóa Autorun của các ổ đĩa mạng

    0 x 20

    32

    Vô hiệu hóa Autorun của các ổ đĩa CD-ROM

    0 x 40

    64

    Vô hiệu hóa Autorun của các đĩa RAM

    0 x 80

    128

    Vô hiệu hóa Autorun của các ổ đĩa chưa biết kiểu

    0 x FF

    255

    Vô hiệu hóa Autorun của các ổ đĩa

    Theo đó, nếu muốn vô hiệu hóa tính năng Autorun của tất cả các ổ đĩa trừ đĩa CD ROM, bạn tính 1+4+8+16+64+128 = 221 (bỏ giá trị 32 cho CD ROM), đổi ra hệ cơ số 16 được DD (sử dụng Calculator của Windows) rồi nhập giá trị DD cho “NoDriveTypeAutorun”. Để vô hiệu hóa tính năng Autorun của tất cả mọi loại đĩa, bạn nhập FF. Sau đó khởi động lại máy để thay đổi có hiệu lực. 

    4. Dùng menu Open  

    Điều đơn giản và an toàn nhất là để mở một file tài liệu bất kỳ (Word, Excel, Access, AutoCAD...) hãy mở phần mềm ra trước, rồi bấm nút menu File/ Open để mở tài liệu vì mọi phần mềm đều có chế độ lọc bỏ những file không phải là tài liệu chính thức của nó.

    Đừng tiện lợi hoá bằng cách trông thấy tài liệu là ngay lập tức bấm đúp chuột để mở.

    Bỏ virus chạy Autourun:

    Cách 1:

    Tại cửa sổ Run đánh: cmd cd\ dir *:\autorun.inf/a trong đó * là ổ mà bạn muốn kiểm tra, tham số a là cho hiện ra những file ẩn, nếu như ổ của bạn có virus autorun thì sẽ hiện ra 1 file trong đó có một đoạn mã mà bạn chỉ cần sửa như sau :

    [AutoRun]
    open=setup.exe
    icon=setup.exe,0

    Sau đó bạn save nó lại rồi khởi động lại máy. Nhưng cách này không được hiệu quả lắm.

    Cách 2:

    Cũng tại cửa sổ Run gõ: del *:\autorun.inf/f/a trong đó f là tham số để cưỡng chế xoá, sau đó khởi động lại máy.

    Cách 3:

    Mở winrar tại thư mục gốc của mỗi ổ hãy tạo một folder có tên là autorun.inf Đồng thời trong file autorun này, bạn lại tiếp tục tạo một file mới lấy tên là: khong the xoa..\

    Xin lưu ý là đằng sau chữ không thể xoá là ba dấu chấm và một dấu gạch chéo, nếu như không có 2 dấu dấu chấm trở lên và 1 dấu \ thì không được, còn tên này thì các bạn tuỳ chọn. (đây là một cách lợi dụng winrar) Trong cmd nhập lệnh như sau:

    cd\
    d: (nếu bạn muốn làm ở ổ d )
    mkdir autorun.inf 
    cd autorun.inf
    mkdir khong the xoa…\
    cd..
    cd..
    attrib +s +r +h autorun.inf

    Vậy là xong. Cũng tương tự như vậy, các bạn có thể làm với các ổ khác. Cách này có thể coi là miễn dịch với autorun, sau này đảm bảo bạn sẽ không bị nhiễm autorun nữa.

    Hoặc các bạn có thể copy đoạn mã dưới đây vào notepad:

    @echo off
    mkdir c:\autorun.inf\khongthexoa...\
    attrib +s +h +r c:\autorun.inf

    sau đó đổi thành đuôi .bat va kích vào đó là xong. Nếu bạn muốn làm với các ổ khác thì chỉ cần sửa tên ổ C thành ổ đó là được. Đây là cách rất hay vì nó không cho trong Windows xuất hiện cùng lúc 2 file có tên giống nhau.

    Người gửi: HiềnNM

    Tôi có một phương pháp đơn giản để chống lại loại virus này. Đó là trong quá trình cắm flash disk vào cổng USB, hãy giữ chặt phím Shift bên trái của bàn phím đến khi nào máy nhận xong ổ (khoảng 30 giây cho chắc). Việc này tạm thời không cho phép CD hoặc flash disk đang cắm vào không được tự động chạy chương trình. Sau đó có thể thay đổi tùy chọn trong Folder Options để xóa các file nghi ngờ.

    Giải pháp khắc phục tác hại của virus lây qua USB

    Các hướng dẫn sau đây sẽ giúp bạn loại bỏ tình trạng không truy cập được registry, mất Folder Options, không cho hiển thị file ẩn và file hệ thống, đồng thời làm ẩn một số tập tin dữ liệu khác... kể cả khi đã dùng phần mềm diệt virus.
    >Cách 'cứu chữa' đơn giản cho trục trặc của ổ USB

    Trước hết, bạn phải đảm bảo máy tính đã sạch virus, nếu không, mọi hành động sẽ là vô nghĩa. Virus sẽ nhanh chóng nhận biết các thay đổi của bạn và tiếp tục điều chỉnh lại hệ thống theo ý của chúng, còn nhanh hơn bạn rất nhiều lần.

    1. Bị khoá Registry

    Triệu chứng: Khi bấm Start > Run > gõ regedit chỉ nhận được một thông báo "Registry editor has been disabled by your administrator".

    Khắc phục: Mở Notepad ra, copy và dán đoạn mã này vào và save nó lại thành file UnHookExec.inf

    [Version]
    Signature="$Chicago$"
    Provider=Symantec

    [DefaultInstall]
    AddReg=UnhookRegKey

    [UnhookRegKey]
    HKLM, Software\CLASSES\batfile\shell\open\command,,,"""%1"" %*"
    HKLM, Software\CLASSES\comfile\shell\open\command,,,"""%1"" %*"
    HKLM, Software\CLASSES\exefile\shell\open\command,,,"""%1"" %*"
    HKLM, Software\CLASSES\piffile\shell\open\command,,,"""%1"" %*"
    HKLM, Software\CLASSES\regfile\shell\open\command,,,"regedit.exe ""%1"""
    HKLM, Software\CLASSES\scrfile\shell\open\command,,,"""%1"" %*"
    HKCU, Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Policies\
    System,DisableRegistryTools,0x00000020,0

    Hoặc tải file nàyhttp://securityresponse.symantec.com/avcenter/UnHookExec.inf về sử dụng luôn.

    Sau khi lưu, nhấn chuột phải vào nó rồi chọn "Install". Nếu cần restart lại máy.

    2. Mất Folder Option

    Triệu chứng: Mở Explorer, tại Menu Tools, thấy biến mất menu Folder Option.

    Khắc phục: Có 2 cách sau đây:

    Cách 1

    Bấm Start > Run gõ vào Regedit: 

    Nếu Registry bị khoá thì thực hiện theo phần 1.
    Nếu mục Run bị khoá thì thực hiện theo phần 6 ở bên dưới.

    Tìm đến khoá sau:

    User Key: HKEY_CURRENT_USER\ Software\ Microsoft\ Windows\ CurrentVersion\ Policies\ Explorer
    System Key: HKEY_LOCAL_MACHINE\ Software\ Microsoft\ Windows\ CurrentVersion\ Policies\ Explorer

    Bên cửa sổ bên phải bạn sẽ thấy một giá trị REG-DWORD có tên là "NoFolderOptions"
    Bạn click double để chỉnh sửa giá trị của nó như sau:
    Value: 0 - hiện menu , 1 - ẩn menu.

    Cách 2

    Bây giờ vào Start > Run.

    Nếu mục Run bị khoá thì thực hiện theo phần 6 của bài viết này.

    Gõ vào GPEdit.msc rồi chọn OK.
    Sau đó vào tiếp User Configuration/Administrative Template/Windows Component/Windows Explorer

    Nhấn đúp chuột vào mục REMOVE THE FOLDER OPTIONS...và chọn Disable. Xong đóng lại, ra Run gõ GPUPDATE /FORCE rồi bấm OK.

    3. Không hiển thị được file ẩn

    Triệu chứng: Bạn thấy biến mất dữ liệu, không nhìn thấy nó mặc dù biết chắc chắn là nó vẫn ở đó. Mở Explorer, bấm Menu Tools, chọn Folder Options (nếu không nhìn thấy Folder Options thì thực hiện mục 2 của bài viết này). Vào tab View/Advanced Settings, mục "Hidden files and folders". Cho dù bạn có bấm xuống "Show Hidden Files and Folders" rồi bấm Apply hay OK thì file ẩn vẫn cứ ẩn. Mở lại Setting đó thì nó lại như cũ.

    Khắc phục: Mở Notepad ra, copy và dán đoạn mã này vào và save nó lại thành file ShowHiddenFile.reg

    REGEDIT4

    [HKEY_LOCAL_MACHINE\Software\Microsoft\Windows\
    CurrentVersion\explorer\Advanced\Folder\Hidden\SHOWALL]
    "RegPath"="Software\\Microsoft\\Windows\\CurrentVersion\\
    Explorer\\Advanced"
    "Text"="@shell32.dll,-30500"
    "Type"="radio"
    "CheckedValue"=dword:00000001
    "ValueName"="Hidden"
    "DefaultValue"=dword:00000000
    "HKeyRoot"=dword:80000001
    "HelpID"="update.hlp#51105"

    Hoặc tải file này http://files.myopera.com/trandungkts/blog/
    ShowHiddenFileandFolder.reg
     về sử dụng luôn, nếu code trên do lỗi hiển thị trên mạng chạy không đúng.

    Sau khi save, bạn nhấn đúp chuột vào nó để import vào registry. Nếu cần restart lại máy. Rồi vào Folder Options để hiệu chỉnh Show Hidden Files and Folder.

    4. Bị ẩn (hidden) file và folder dữ liệu

    Triệu chứng: Thấy biến mất dữ liệu. Mở Folder Options, chọn show all files lên thì nhìn thấy dữ liệu tự động bị ẩn (bị đặt thuộc tính Hidden hoặc System). Bỏ check Hidden đi thì không bỏ được. Thuộc tính System thì Windows đã bỏ không cho sử dụng, mặc dù thuộc tính này của file vẫn tồn tại.

    Khắc phục: Mở cửa sổ Explorer ra, chuyển đến chỗ có chứa các file ẩn, bấm chuột phải vào đâu đó trên vùng trống của cửa sổ Explorer. Tại menu bật ra, chọn New/Shortcut.

    Một cửa sổ Creat Shortcut sẽ xuất hiện. Tại ô Type the location of the item, bạn copy và dán dòng sau đây vào đó:

    attrib.exe -s -r -h

    Bấm Next. Tại ô Type a name for this shortcut, bạn đặt tên cho Shortcut, ví dụ như showfile chẳng hạn. Bạn sẽ có một file shortcut có tên là Showfile.lnk.

    Sau đó, bất cứ file hay folder nào bị đặt thuộc tính "không bình thường" (bị Read Only, bị Hidden, bị System) bạn cứ kéo file hoặc folder đó thả vào biểu tượng của Shortcut Showfile (drag and drop).

    5. Bị khoá Task Manager

    Triệu chứng: Bấm Ctrl-Alt-Del, chỉ thấy nhận được thông báo "Task Manager has been disabled by your administrator".

    Khắc phục: Chọn một trong hai cách sau:

    Cách 1. Thay đổi Registry

    Bấm Start > Run gõ vào Regedit:

    Nếu registry bị khoá thì thực hiện theo phần 1 của bài viết này.
    Nếu mục Run bị khoá thì thực hiện theo phần 6 của bài viết này.

    Tìm đến khoá sau:
    HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\
    CurrentVersion\Policies \System

    Tại cửa sổ bên phải, bạn sẽ thấy một giá trị REG-DWORD có tên "DisableTaskMgr"

    Bạn click double để chỉnh sửa giá trị của nó như sau:
    Value: 1= Cấm Task manager.
    Value: 0= Mở khoá TaskManager.

    Hoặc đơn giản là xoá đi, bạn sẽ mở được Task Manager.

    Cách 2. Dùng Administrative Tool

    Bây giờ hãy vào START --> RUN

    Nếu mục Run bị khoá thì thực hiện theo mục 6 của bài viết này.

    Gõ vào GPEdit.msc rồi chọn OK

    Ở cửa sổ Group Policy settings, chọn User Configuration\Administrative Templates\System

    Chọn Options Ctrl+Alt+Delete

    Chọn Remove Task Manager

    Nhấn đúp chuột vào vào mục Remove Task Manager và chọn Disable.

    Xong đóng lại, ra Run gõ GPUPDATE /FORCE rồi bấm OK.

    6. Mất mục Run

    Triệu chứng: Đáng nhẽ ở menu Start, phải có mục Run để chúng ta chạy các phần mềm không nằm trong Start Menu. Nhưng giờ nó đã biến mất.

    Khắc phục: Bấm Start/All Programs/Accessories. Mở Command Prompt.

    Cửa sổ Command Prompt sẽ xuất hiện. Giờ thì gõ thẳng "Regedit.exe" vào dòng lệnh của Command Prompt. Bạn sẽ mở được Registry Editor.

    Bạn tìm đến khoá sau:

    HKEY_CURRENT_USER\ Software\ Microsoft\ Windows\ CurrentVersion\ Explorer\ Advanced.

    Ở cửa sổ bên phải, Bạn sẽ thấy một giá trị REG-DWORD với tên "StartMenuRun".

    Sửa giá trị thành 0 nếu muốn tắt, 1 nếu muốn khoá.

    Hoặc đơn giản là xoá nó đi. Khởi động lại máy.

    10 cách ra lệnh tiện lợi với phím Windows

    Khi muốn thực hiện một số việc như mở ô tìm kiếm, bạn phải mất ít nhất 4 động tác: cầm chuột, nhấn nút Start, trỏ vào dòng Search, bấm lựa chọn nhưng với phím Windows, quy trình được rút gọn nhanh hơn.

    + D (mở desktop)

    + E (mở cửa sổ trình bày các ổ của máy tính)

    + F (mở cửa sổ tìm kiếm của Windows)

    + R (mở cửa sổ Run)

    + T (đi qua các icon ứng dụng trên desktop, di chuyển bằng phím mũi tên, chọn bằng phím Enter)

    Dành riêng cho Windows Vista

    + G (đi qua các Gadgets)

    + L (khóa máy tính)

    + U (kích hoạt Ease of Access Center)

    + X (đi qua các icon trong Windows Mobility Center)

    + CTRL + Tab (mở giao diện cửa sổ xếp lớp chéo Flip 3D)

    Ghost đĩa từ máy tính này sang máy khác

    Công cụ Ghost thực chất là sao lưu đĩa. Khi muốn làm việc này, bạn cần chuẩn bị đĩa CD khởi động Hiren, phiên bản từ 7.0 trở lên. Trong đĩa CD này đã có sẵn công cụ Norton Ghost. Máy tính thứ nhất (đã cài đầy đủ chương trình) phải trang bị ổ CD ROM.

    Có hai cách để thực hiện công việc Ghost từ máy 1 sang máy 2.

    Cách 1 dùng khi bạn có kiến thức về tháo lắp phần cứng máy tính và máy không trong thời gian bảo hành. Bạn tuần tự làm theo các bước sau:

    - Tháo ổ cứng của máy 2, gắn vào máy tính 1 theo chế độ slave (nếu máy bạn dùng đĩa cứng theo chuẩn IDE ATA). Còn nếu máy bạn dùng SATA thì gắn vào một cổng SATA thứ hai.

    Vào BIOS và kiểm tra xem máy tính đã nhận biết (detect) được hai ổ đĩa cứng chưa. Nếu chưa được thì kiểm tra và thao tác cho đến khi nào máy tính 1 của bạn nhận biết được hai ổ cứng.

    - Có 3 trường hợp

    1. Nếu hai ổ cứng hoàn toàn giống nhau về kích thước thì bạn có thể bắt đầu Ghost đĩa ngay. Thao tác như sau:

    Khởi động máy bằng đĩa CD-ROM Hiren đã chuẩn bị sẵn. Bạn sẽ nhận được một danh sách liệt kê rất nhiều công cụ có trong đĩa CD này. Hãy nhấn số của dòng công cụ “Disk Clone Tools”, bạn sẽ thấy một danh sách rất nhiều công cụ để sao lưu đĩa, chọn công cụ Norton Ghost 8.00.

    Chọn tuần tự Local > Disk > To Disk. Khi máy tính hỏi bạn về Source Disk, hãy chọn ổ đĩa đã có đầy đủ thông tin. Đĩa đích sẽ là đĩa cứng mà bạn mới gắn vào.

    Xin lưu ý, thông tin trên đĩa đích sẽ bị ghi đè nếu bạn dùng chế độ Disk to Disk. Nếu bạn Ghost các đĩa cứng cài hệ điều hành thuộc họ NT (Windows 2000/XP/2003), bạn nhớ chấp nhận để Ghost luôn cả tập tin Pagefile.sys. Chức năng này chỉ có với các phiên bản Ghost từ 8.00 trở lên. Windows 2003 cần phiên bản Ghost 8.02.

    2. Nếu hai ổ cứng không giống nhau hoặc giống nhau nhưng bạn muốn chia cấu trúc phân vùng khác.

    Trước hết, hãy dùng PartionMagic để phân vùng lại đĩa cứng máy 2 như ý muốn của bạn. Công cụ PartionMagic có thể tìm thấy ngay trên đĩa CD Hiren, tại mục Disk Manager Tools.

    Bạn tiến hành Ghost từ Partion > Partion. Chương trình yêu cầu bạn lựa chọn đĩa nguồn (Source Disk), tới phân vùng chứa thông tin (Source Partion), rồi tới đĩa đích (Destination Disk), nếu có 2 đĩa cứng vật lý và phân vùng chứa thông tin chép đến.

    Nếu không, bạn cũng có thể chép một phân vùng thành một tập tin Images bằng cách dùng chức năng Pation > To Image. Tập tin này có đuôi là .gho. Xin nhớ là phải xác nhận yêu cầu copy luôn cả tập tin Pagefile.sys vào trong tập tin hình ảnh. Sau đó, cần chép tới phân vùng nào thì dùng chức năng Partion > From Images… để bung từ tập tin .gho mà bạn đã tạo thành một Partion có thông tin gần như nguyên vẹn.

    Lưu ý: Lượng thông tin trong phân vùng nguồn không được lớn hơn dung lượng chứa của phân vùng đích. Tốt hơn, hai phân vùng nên có kích thước đều nhau hoặc phân vùng nguồn có kích thước nhỏ hơn.

    Cách 2 áp dụng khi bạn không muốn tháo lắp máy tính

    Hãy đọc kỹ bước thứ 3 ở trên, hướng dẫn cách Ghost một phân vùng đĩa thành một tập tin Images. Tìm cách chép tập tin phân vùng đĩa .gho đó từ máy 1 vào máy 2. Sau đó, khởi động máy 2 với đĩa CD Hiren và làm thao tác ngược lại, ghost từ một tập tin Images thành một phân vùng đ


    Nhắn tin cho tác giả
    Ngô Bảo Côi @ 20:42 16/10/2011
    Số lượt xem: 2169
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Trở về đầu trang

    BÁO MỚI

    Bản Đồ